Đám ma từ xưa đến nay luôn được người Việt đặc biệt chú ý và yêu cầu nhiều công đoạn tỉ mỉ, cẩn trọng. Có những "khâu" tuyệt đối không được bỏ qua. Đó là gì?

Nghi thức nghiêm ngặt trong đám ma của người Việt xưa

Người Việt Nam ta vẫn thường quan niệm rằng "nghĩa tử là nghĩa tận" nên việc tang ma cho người đã khuất được coi là việc làm rất quan trọng. Nó thể hiện sự hiếu kính với ông bà tổ tiên, nêu gương đạo đức cho con cháu hiện tại và sau này, và cũng nằm trong tín ngưỡng thờ phụng các linh hồn, vốn được coi là tồn tại trong vạn vật (không chỉ con người), gọi là vạn vật hữu linh.

Trong đám tang của người Việt xưa, có rất nhiều thủ tục, trình tự được thực hiện nghiêm ngặt. Ảnh: Vietnamtourims.

Trong đám tang của người Việt xưa, có rất nhiều thủ tục, trình tự được thực hiện nghiêm ngặt. Ảnh: Vietnamtourims.

Thông tin được chia sẻ trên Trang thông tin điện tử của Tổng Cục du lịch (Bộ Văn hóa - Thể Thao & Du lịch), trình tự lễ tang ngày trước như sau: Người chết được tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo tươm tất, rồi lấy một chiếc đũa đặt giữa hai hàm răng, bỏ vào miệng một dúm gạo và ba đồng tiền xu gọi là lễ ngậm hàm. Sau đó đặt người chết nằm xuống chiếu trải sẵn dưới đất (theo quan niệm "từ đất sinh ra lại trở về với đất"). Tiếp đó là lễ khâm liệm (liệm bằng vải trắng) và lễ nhập quan (đưa thi hài vào quan tài). 

Sau khi nhập quan là lễ thành phục, chính thức phát tang. Con trai, con gái và con dâu của người quá cố, đội khăn xô, mũ chuối (hoặc mũ tết bằng rơm), mặc áo xô. Cháu chắt họ hàng, thân thích chít khăn để tang. Những ngày quàn người chết trong nhà đều phải cúng cơm sớm, chiều. Sau khi chọn được ngày, giờ tốt làm lễ đưa tang. Đám tang có câu đối, linh sàng, nhà táng (nơi đặt linh cữu). Người đưa tang đi sau linh cữu, dọc đường có rắc vàng thoi (bằng giấy). Đến huyệt làm lễ hạ huyệt và đắp mộ. Chôn cất xong về nhà làm lễ tế.

Ba ngày sau tang chủ làm lễ viếng mộ (lễ mở cửa mả), được 49 ngày làm lễ chung thất (thôi cúng cơm cho người chết). Sau 100 ngày làm lễ tốt khốc (thôi khóc). Sau một năm làm lễ giỗ đầu, sau ba năm (ở nhiều nơi là hai năm) làm lễ hết tang".

Theo sách Việt Nam phong tục của tác giả Phan Kế Bính, được trang Helino biên tập và đăng tải lại thì đám ma xưa có tới 20 "khâu" mà nhà có người mất phải tuân thủ. Đó là: "Khi mới mất có thủ tục ngậm hàm; Khâm liệm, nhập quan; Thành phục; Tang phục; Chiêu tịch diện (cúng cơm); Thổi kèn giải; Chuyển cữu (xoay quan tài); Phát dẫn (đi đưa ma); Nghi trượng đi đường; Nhà trạm (khi đi đường, nhà phú quý có trạm trung đồ, để dừng cữu mà diện tế. Nhà trạm lợp tạm bằng lá hoặc bằng cót, căng vải kết hoa treo đèn treo liễn, bài trí lịch sự); 

Hạ huyệt; Khóc lạy (từ lúc ma còn để trong nhà thì con cháu và khách khứa phúng viếng chỉ lạy hai lạy, nghĩa là còn coi như người còn sống. Đến lúc hạ huyệt rồi thì mới lạy bốn lạy, nghĩa là đến lúc đó thì mới lấy đạo thờ người chết mà thờ); Ngu tế (An táng rồi giở về nhà lại tế);

Viếng mộ, đắp mộ; Chung thất (49 ngày); Tốt khốc (100 ngày); Tiểu tường (giỗ đầu); Đại tường (giỗ hết); Đàm Tế (sau đại tường hai tháng, chọn một ngày làm lễ trừ phục, gọi là đàm tế. Bấy giờ mới bỏ hết đồ tang phục mà mặc các sắc phục thường); Đốt mã (trong khoảng Tiểu, Đại tường, có hai kỳ đốt mã. Kỳ mã đầu gọi là mã biếu, kỳ mã sau mới thực là mã dưng cho người mất dùng. Tục hay đốt về tuần Trung nguyên tháng Bảy, cũng nhiều nhà thì đốt vào ngày giỗ đầu và ngày giỗ hết)".

Người Việt xưa đặc biệt coi trọng các nghi lễ trong đám tang cho người đã khuất. Ảnh: Wikipedia.

Người Việt xưa đặc biệt coi trọng các nghi lễ trong đám tang cho người đã khuất. Ảnh: Wikipedia.

Cũng theo ghi chép về một đám ma xưa của nhà nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật Phan Cẩm Thượng được đăng trên báo Đại Đoàn Kết, ông có viết về nghi thức thực tế một đám ma của người Mường vào những năm 1966. Ông viết: "Nếu trong làng có người chết, đặc biệt là người già, đám ma tổ chức vào ba ngày. Ngày đầu đi trình báo chính quyền, dựng rạp, báo tin cho bà con làng xóm. Và mọi người trong làng sẽ đến thăm hỏi, phân công giúp việc. Xa xưa hơn thời điểm 1966, những ngày này có ăn uống, do mọi người đến viếng đều mang theo thực phẩm. Năm 1966 là thời điểm chiến tranh, nên khoản ăn uống bị cắt bỏ, thay vào chỉ là uống chè, ăn trầu cau. 

Ngày thứ hai tổ chức múa Thập ân vào ban đêm. Màn múa có ban nhạc hiếu - phường Bát âm cử nhạc. Phường Bát âm đơn giản gồm: Một trống cái (của làng), một trống con, một trống vỗ cao hai mặt, một nhị, một cò líu, một kèn loa, một kèn lá, một đôi chũm chọe. Nhân vật chính múa Thập ân là một đứa bé gái hoặc trai, chừng 10 tuổi, đội mũ rồng, mặc áo đen, nẹp đỏ, tay cầm xin tiền, vừa nhảy múa, vừa hát bài kể 10 công đức của cha mẹ với con cháu. Khi múa, người ta có thể thưởng tiền vào đĩa trước ban nhạc hiếu. Lúc đó ban nhạc hiếu là của địa phương, được ăn cơm với gia chủ, và hầu như không có tiền công, chỉ có tiền thưởng.

Phường Bát âm không thể thiếu trong bất kỳ đám tang nào. Ảnh: Cuộc sống 3 miền.

Phường Bát âm không thể thiếu trong bất kỳ đám tang nào. Ảnh: Cuộc sống 3 miền.

Ngày thứ ba, chọn giờ lành đưa ma ra đồng. Đi đầu là ông sư cùng với một người cầm canh phan là cái phướn buộc vào một cành tre tươi, theo sau một số vãi cầm phướn, có vài người cầm biển Tiêu tĩnh (giữ yên lặng) và Hồi tỵ (tránh xa) đi xung quanh. Tiếp đến là hai mươi ba cụ giăng một tấm lụa dài đội trên đầu - đây là cầu lụa đưa người xuống suối vàng, có một bà cụ đi cạnh rúc tù và. Tiếp đến là phường Bát âm và những người cầm phướn, đối trướng, lúc đó đối trướng không nhiều lắm, thường chỉ do những ông đồ làng viết chữ viếng vào một tấm vải lớn. Rồi người con trai trưởng, mặc tang phục đi giật lùi trước đòn kiệu. Áo quan được đặt trong đòn kiệu rồng rất lộng lẫy có đến 16 người khiêng. Sau đòn kiệu là toàn bộ gia đình, các cô dâu thì đi vài bước là phải lăn lộn ra mặt đất, cuối cùng là dân làng. Đám đòn kiệu đi chùng chình, cứ tiến ba bước lại lùi một bước. Khi nhập quan người ta thường bỏ ít tiền xu vào trong, gọi là tiền qua đò dưới suối vàng". 

Đám ma thời hiện đại có gì khác xưa?

Để theo truyền thống, đám ma được thực hiện theo rất nhiều các nghi thức. Thời xưa, thậm chí chính trong giai đoạn đó, nhiều người Việt cũng đã thấy được sự tốn kém và phiền phức khi phải thực hiện hết tất cả những thủ tục cho người đã khuất. Trong cuốn Việt Nam phong tục, mục Việc Hiếu, Phan Kế Bính có khảo cứu như sau: "Trong làng, nhà nào có người mất, phải kiếm trầu trình dịch lý, xin cắt đô tùy hoặc mười hai, hai mươi bốn, ba mươi người, nhiều ít tùy hiếu chủ; và có cơi trầu mời hàng xóm, mời bản tộc, mời làng, mời hội chư bà đi đưa đám… Hiếu chủ phải gậy mũ ra đình lạy làng, rồi làng nhận lễ mới đem đô tùy vào cất đám. Cất đám phải có tiền lệ một vài đồng bạc để phân phát cho bọn đô tùy. Nhiều nơi phải có một tấm vải trắng quàng trên nhà táng, gọi là vải trắng. Tấm vải ấy cất đám xong thì chia cho đàn anh trong dân mỗi người một mảnh".

Nghi lễ trong đám ma thời hiện đại được lược bỏ bớt một số nghi thức không còn phù hợp. Ảnh: Pháp luật TP.HCM.

Nghi lễ trong đám ma thời hiện đại được lược bỏ bớt một số nghi thức không còn phù hợp. Ảnh: Pháp luật TP.HCM.

Việc tang ma theo lối cổ thực ra rất tốn kém, phiền phức, cho nên tác giả Phan Kế Bính cũng viết: "Chỉ vì những tục lệ mà sinh ra Ma sống và Ma khó. Ma sống là những người còn sống lo con cháu mình không đủ tiền làm ma khi mình mất mà nợ làng, nên nộp lệ làng từ trước. Ma khó là gia đình tang ma phải nợ miệng, chờ đến ba năm đoạn tang, cải táng, mới làm ma mời làng, theo đúng tục lệ khi mất". Và ông cũng phê phán những nơi vì gia chủ nghèo, không bày biện đủ lễ mà người làng cho là sơ sài. Ông coi đó là tục thô bỉ, bạc bẽo, đồng thời đặt ra các hạng hiếu khác nhau cho người giàu, trung bình và nghèo, sao cho đều ổn thỏa, chứ không nhất nhất vì tục lệ mà nợ miệng. 

Cho đến nay, cuộc sống hiện đại hơn, việc tang ma vẫn được người Việt đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, các hình thức cũng được tối giản hơn. Thay vì hàng loạt các thủ tục phức tạp, một số thủ tục rườm rà đã được người dân lược bỏ. 

Theo Trang thông tin điện tử của Tổng Cục du lịch (Bộ Văn hóa - Thể Thao & Du lịch), ngày nay, lễ tang được tổ chức theo nghi thức đơn giản hơn: Lễ khâm liệm, lễ nhập quan, lễ viếng, lễ đưa tang, lễ hạ huyệt và lễ viếng mộ. Người trong gia đình để tang bằng cách chít khăn trắng hoặc đeo băng tang đen.

Tang lễ được tổ chức khác nhau ở các dân tộc trên mọi miền đất nước Việt Nam, mỗi một dân tộc lại có những nghi lễ tổ chức khác nhau mặc dù không nhiều nhưng đều có những bước cơ bản tương đối giống nhau. Trong tang lễ ngày nay lại có những điểm khác so với thời kỳ từ thế kỷ 20 trở về trước. Điểm khác đó chính là những nghi thức nào không còn phù hợp với xã hội hiện đại thì người dân cũng xem xét và lược bỏ. Bởi vì không phải cứ đầy đủ thủ tục, nghi thức thì mới là có hiếu, có tâm, mà đó là cách mà chúng ta nhớ về người đã khuất để sống và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn.

  • Dừng bán xăng lý do 'khó đỡ': Đứt dây curoa, đóng cửa đi chợ, có đám ma
  • Bệnh viện 199 giải thích việc cho bệnh nhân nhiễm Covid-19 về nhà làm đám tang
  • PV (Tổng hợp) / Tin Nhanh Online

    Nguồn: http://tinnhanhonline.vn/dam-ma-cua-nguoi-viet-xua-can-dac-biet-tuan-thu-dieu-gi-khau-nao-den-bay-gio-van-con-1632310