Trong những bản tin, bài báo về lĩnh vực y tế, chúng ta rất hay bắt gặp cặp từ bệnh mạn tính hay mãn tính. Theo cách hiểu của người viết thì những căn bệnh mà họ đề cập đến là thứ bệnh mà người mắc sẽ bị mãi (mãn), bị suốt đời, theo hết đời. Vậy mạn tính và mãn tính, viết thế là đúng?

Tiếng Việt của chúng ta đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, các từ mới không ngừng được bổ sung sử dụng, điều chỉnh, phát triển, hoặc bị tiêu biến nếu như không còn phù hợp với thực tiễn. Mỗi một từ đều là kết quả của sự chắt lọc rất khắc khe, tinh tế, tỉ mỉ qua lịch sử lâu dài. Từ Hán - Việt cũng là một bộ phận không thể thiếu của tiếng Việt, nó thể hiện tinh thần vận dụng sáng tạo và khả năng đồng hóa ngôn ngữ kỳ diệu của ông cha ta. Trong quá trình sử dụng từ Hán - Việt, có không ít trường hợp dùng một cách tùy tiện, kể cả trong những văn bản hành chính trang trọng. Cặp từ mạn tính và mãn tính đang làm "xoắn não" nhiều người khi bị hỏi đâu là câu trả lời đúng. Vậy, theo bạn mạn tính hay mãn tính mới là đúng chính tả?

Mạn tính hay mãn tính mới là từ đúng chính tả. Ảnh minh họa.

Mạn tính hay mãn tính mới là từ đúng chính tả. 

Khi tra từ khóa mạn tính và mãn tính trên trang tìm kiếm Google, bạn sẽ nhận được kết quả trả về như sau: Đối với từ mạn tính có 1.960.000 kết quả và 3.370.000 kết quả đối với từ mãn tính. Nhìn vào kết quả tra cứu, chúng ta nhận thấy từ mạn tính và mãn tính đều được nhiều người sử dụng. Tuy nhiên, từ mãn tính lại cho kết quả nhiều gấp gần 3 lần so với từ mạn tính.

Kết quả tra cứu Google của mạn tính và mãn tính. Ảnh chụp màn hình.

Kết quả tra cứu Google của mạn tính và mãn tính. Ảnh chụp màn hình.

Cũng chính vì sự phổ biến ấy mà bộ đôi này đang gây ra luồng ý kiến tranh cãi, không biết sử dụng từ nào mới đúng chính tả. Để tìm được từ đúng nhất chúng ta cùng phân tách nghĩa của từng từ như sau.

Mạn tính là gì?

"Mạn" là từ Hán Việt, ngoài nghĩa kiêu ngạo, khinh thường, coi thường (chúng ta hay nói khinh mạn), còn có nghĩa: Từ từ, chậm, chậm chạp, đến dần dần. Mạn tính có nghĩa tính chậm chạp (để chỉ ai đó).

Trong y học, bệnh mạn tính là thứ bệnh ban đầu rất nhẹ, dường như không đáng kể, nhưng nó cứ đến dần dần, càng ngày càng nặng, không chữa chặn ngay từ đầu thì càng khó chữa. Như vậy bệnh mạn tính không để chỉ một loại bệnh cụ thể nào trong y học mà để nói về dạng bệnh mà thôi. Ví dụ tiểu đường, mỡ trong máu, huyết áp, giãn tĩnh mạch… là dạng bệnh mạn tính bởi càng lớn tuổi, càng ăn nhiều đường, nhiều mỡ, ít tập luyện, không biết kiềm chế sự thòm thèm của mình thì bệnh ngày càng tăng, càng nặng, càng khó chữa.

Khi tra cứu từ mạn tính trong ứng dụng từ điển online Tratu.soha kết quả hiển thị mạn tính là tính từ và ít được sử dụng.

Kết quả tra cứu từ mạn tính trong từ điển Tratu.soha. Ảnh chụp màn hình.

Kết quả tra cứu từ mạn tính trong từ điển Tratu.soha. Ảnh chụp màn hình.

Mãn tính là gì?

"Mãn" là từ Hán Việt, có nhiều nghĩa, nghĩa chính là đầy đủ, sung túc, dồi dào. Mãn nguyệt có nghĩa là đủ tháng, đầy tháng, trăng tròn đầy. Ngày xưa, người ta tính tháng theo trăng, khi nói mãn nguyệt khai hoa tức là nói về người đàn bà có thai đã đủ tháng, đã đến ngày sinh. Mãn phúc tức là hạnh phúc đầy đủ (dùng chữ này để chúc ai đó), mãn phục là hết tang (phục), mãn kiếp là trọn kiếp. Xưa có câu đối ngày tết rất hay: Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ/Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường (Trời thêm ngày tháng, người thêm tuổi/Xuân tràn trời đất, phúc đầy nhà).

Khi tra cứu từ mãn tính trong ứng dụng từ điển online Tratu.soha kết quả hiển thị mãn tính như thế nào? Mãn tính là tính từ, chỉ bệnh có tính chất kéo dài và khó chữa, ví dụ như: Viêm phế quản mãn tính, viêm gan mãn tính. Từ đồng nghĩa là: Kinh niên, mạn tính. Từ trái nghĩa của mãn tính là cấp tính.

Kết quả tra cứu từ mãn tính trong từ điển Tratu.soha. Ảnh chụp màn hình.

Kết quả tra cứu từ mãn tính trong từ điển Tratu.soha. Ảnh chụp màn hình.

Nhìn vào 2 kết quả tra cứu trong từ điển Tratu.soha ở trên, có lẽ mọi người đã biết được câu trả lời. Mạn tính và mãn tính đều có thể dụng được, chỉ có điều mạn tính là từ ít được sử dụng hơn mạn tính. 

Sử dụng từ Hán - Việt sao cho đúng?

Từ Hán - Việt chiếm khoảng trên dưới 60% trong ngôn ngữ nói và viết của tiếng Việt. Tuy nhiên, việc sử dụng sai, sử dụng không đúng, không chuẩn từ Hán - Việt rất phổ biến. Còn nhớ, ngày 14/6/2016, PGS.TS Nguyễn Đình Phức - Khi đó là Trưởng khoa Ngữ văn Trung Quốc (Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM) đã từng có bài phỏng vấn "Cần dạy cách dùng từ Hán Việt ở trường phổ thông" trên báo Giáo dục TP.HCM, ông nói: Tình trạng phạm lỗi trong quá trình sử dụng từ Hán Việt của giới trẻ hiện nay khá phổ biến. Những lỗi sai chủ yếu tập trung vào một số khía cạnh sau đây:

- Thứ nhất, lỗi liên quan đến phát âm và viết.

- Thứ hai, sai về ngữ nghĩa hay cảnh huống ngôn ngữ. 

- Thứ ba, dùng sai giá trị phong cách của từ, cụm từ.

- Thứ tư, dùng sai hình thái cấu trúc.

Riêng loại thứ nhất, trong một số trường hợp có thể châm chước, còn loại lỗi thứ tư chiếm số lượng khá hạn chế, chỉ cần lưu ý một chút là được.

Nguyên nhân của việc sử dụng sai từ Hán Việt theo PGS.TS Phức có hai nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, cơ chế lười hóa trong phát âm, nhất là hệ thống âm Hán Việt vẫn khá khó so với người Việt Nam, đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các lỗi sai về ngữ âm, cũng là nguyên nhân chủ yếu cho việc ra đời một loại âm đọc là âm đọc Hán Việt Việt hóa.

Thứ hai, do không hiểu và không được cung cấp các mảng tri thức có liên quan. Chúng ta đều biết, những tri thức liên quan đến mảng từ Hán Việt nhìn chung đều khá khó, việc yêu cầu tất cả mọi người đều sử dụng đúng thực là vấn đề không tưởng, nhất là ngay cả những thầy cô giáo giảng dạy ngữ văn cũng không phải đều hiểu rõ về lĩnh vực này.

Hơn nữa, muốn tự mình hiểu một cách tường tận, cần thiết phải biết một lượng chữ Hán nhất định, và yêu cầu này cho đến nay vẫn là không tưởng với nhiều người trong xã hội.

Để cải thiện, khắc phục tình trạng trên, trước mắt chúng ta cần đồng thời tiến hành cả hai việc. Thứ nhất, khôi phục việc giảng dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông, có thể ở bậc phổ thông trung học, tất nhiên dạy gì, dạy thế nào chúng ta cần phải hoạch định kỹ, việc quy định dạy bao nhiêu chữ Hán hết sức quan trọng, ví dụ khoảng 500 chữ chẳng hạn, nhưng việc chọn 500 chữ này cần phải qua thống kê tần suất xuất hiện cũng như những từ, những khái niệm phải là những khái niệm quan trọng thuộc vốn văn hóa truyền thống của dân tộc.

Thứ hai, dạy chữ Hán phải đi liền với việc dạy cách sử dụng từ Hán Việt, tức cả hai phải đi song song, nếu không cũng sẽ không có kết quả, vì biết chữ Hán không đồng nghĩa với việc biết cách sử dụng đúng từ Hán Việt. Tất nhiên bậc phổ thông làm được như thế thì trước tiên chúng ta phải đào tạo những giáo viên có đủ trình độ để đứng lớp.

  • Giả thiết hay giả thuyết? Làm sao để phân biệt đúng sai?
  • Sáng lạng hay xán lạn? Từ Hán Việt khiến nhiều người 'xoắn não'
  • PV (TH) / Tin Nhanh Online