Dinh thự Vua Mèo, theo quan niệm của người Mông từ xa xưa truyền lại, là ngôi nhà chỉ dành cho vua chúa, những người có uy tín nhất vùng. Nhưng hầu như không có người Mông nào sống ở thời Vương Chính Đức được thấy kiến trúc đó. Có hàng vạn nhân công và thợ giỏi đã xây dựng dinh thự trong 9 năm, tốn 150 tỷ đồng Việt Nam lúc bấy giờ.

Cao nguyên đá Đồng Văn là vùng đất mà người dân tộc Mông, Lô Lô, Tày… cùng sinh sống nhiều đời nay. Theo những ghi chép của lịch sử, người Mông xuất hiện ở Đồng Văn vào khoảng cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, muộn hơn so với những dân tộc khác. Nhưng người Mông là dân tộc chiếm ưu thế hơn cả, cũng là dân tộc để lại nhiều dấu ấn nhất ở vùng đất này.

Người Mông xưa kia là một đại tộc lớn sống ở vùng Kinh Châu – Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu, Trung Quốc).

Thời thịnh trị nhất của nhà Hán, nhà Hán đem quân đi thống nhất Trung Quốc xâm lược các nước lân bang, không quên khuất phục các bộ tộc lớn. Dân tộc Mông bị nhà Hán coi là dân tộc có thể đe dọa đến sự tồn vong của vương triều nên bao đời vua đều cử quân đi khuất phục đại tộc Mông.

Những cuộc chinh phạt của người Hán đều thất bại bởi vấp phải sự chống trả kiên cường của người Mông nhưng rồi họ cũng bị đánh bật về phương Nam trong 1 trận đứng lên chống lại Hán triều.

Thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài “Tất cả đại tộc hãy đi đến phương Nam. Đi đến nơi những vùng đất cao nhất, xa nhất, nơi chưa từng có ai đặt chân đến thì hãy dừng lại, dựng nhà cửa, làm nương rẫy, lấy chồng lấy vợ rồi sinh con đẻ cái. Đó sẽ là quê hương mới của người Mông”. Và cuộc thiên di, bỏ xứ đó đã đưa người Mông đến với những vùng đất phía Bắc Việt Nam và cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) là một trong những nơi được người Mông chọn làm quê hương mới.

Từ cậu bé mồ côi Vương Chính Đức đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân

Và cuộc thiên di của người Mông đến cao nguyên đá Đồng Văn đã đánh dấu một “trang sử” mới quan trọng trong lịch sử của dân tộc Mông, với sự hình thành những vị Vua Mèo với uy danh vang khắp vùng núi phía Bắc.

Đầu thế kỉ 18, Đồng Văn có khoảng 10 vạn người Mông, bao gồm một số dòng họ tiêu biểu như: họ Vàng, họ Dương, họ Mã… Mỗi họ có một thủ lĩnh do cả họ nhất trí suy tôn lên làm người đứng đầu. Những thủ lĩnh này phần lớn đều xuất thân từ những gia đình danh giá, giàu có nhất trong dòng, có trách nhiệm bảo vệ sự an nguy và sức sống của cả dòng họ.

1
Vua Mèo Vương Chính Đức.

Vua Mèo Vương Chính Đức (1865 – 1947) - vị Vua Mèo đầu tiên của người Mông ở Đồng Văn lại chẳng có xuất thân cao quý như thế. Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, Vua Mèo Vương Chính Đức xuất thân nghèo khó, là con trai trong một gia đình người Mông nghèo thuộc họ Vàng (tên thật là Vàng Dúng Lùng, sinh ra ở Sà Phìn, Đồng Văn).

Thuở nhỏ, Vàng Dúng Lùng đã phải cùng mẹ và anh trai Vàng Trá Pò lao động cực khổ. Rèn trong khổ cực, Vàng Dúng Lùng lớn lên mang đầy khí chất đặc trưng của một người Mông thông minh, quả cảm, thích khám phá những vùng đất mới.

10 tuổi, Vàng Dúng Lùng đã biết đi bộ lang thang khắp những vùng núi cao ở Mèo Vạc. Theo lời kể, không một bản làng nào, Vàng Dúng Lùng chưa đi qua. Không một người Mông nào ở Đồng Văn, Vàng Dúng Lùng chưa gặp một lần.

Đến tuổi thanh niên, Vàng Dúng Lùng đã là một chàng trai người Mông can đảm, dũng cảm, không sợ hổ báo, không sợ thú dữ mỗi khi đi rừng và có tài khổi khèn hay nức tiếng khắp vùng cao nguyên đá Đồng Văn.

2
Cụ Vương Chính Đức cùng con cháu trong dòng họ và lính bảo vệ.

Thời Vàng Dúng Lùng sinh ra và lớn lên cũng là thời mà lịch sử phong kiến Việt Nam chứng kiến cuộc xâm lăng của thực dân phương Tây. Sau khi khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp tiến dần chinh phục các bộ tộc ít người ở vùng núi phía Bắc, trong đó có Đồng Văn.

Cùng lúc đó, triều đình Mãn Thanh cũng tiến quân xuống Đồng Văn, với ý định tiêu diệt những nhóm quân nổi dậy người Mông đang hình thành ở Đồng Văn. Ở Đồng Văn cũng xuất hiện những nhóm quân nổi dậy từ Trung Quốc dạt sang, với âm mưu đánh chiếm Đồng Văn.

Đứng trước hiểm họa đó, người Mông ở Đồng Văn, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Vừ Phán Lùng đã đứng dậy, sẵn sàng đánh quân Thanh và đánh quân Pháp đang tiến vào Đồng Văn. Sau khi hai thủ lĩnh là Vừ Phán Lùng và Vàng Dí Tủa lần lượt qua đời vì bị giặc giết và bệnh tật, Vàng Dúng Lùng được người dân bầu làm thủ lĩnh người Mông.

Dưới sự lãnh đạo của Vàng Dúng Lùng, người Mông Đồng Văn đã đánh bạt những phiến quân ở Đồng Văn, thống nhất toàn bộ vùng núi này. Thừa thắng xông lên, người Mông Đồng Văn lại tiếp tục đánh giặc Pháp.

Người Pháp không lường được những khó khăn ở Đồng Văn. Ngay cả khi chúng đã đặt được những đồn trú ở Đồng Văn, ngay cả khi chúng đã gây cho đồng bào Mông Đồng Văn không biết bao nhiêu tổn thất xương máu vẫn không thể khuất phục được họ.

Khi hiểu được về tập tục và văn hóa của người Mông, người Pháp hiểu rằng chỉ có một cách để tạm cai trị người Mông là phải chấp nhận đưa một thủ lĩnh người Mông lên nắm quyền để người Mông nghe theo. Và chúng đã chọn thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng.

Để bắt tay được với thủ lĩnh người Mông, người Pháp đã ký với Vàng Dúng Lùng một hòa ước cam kết rút hết khỏi Đồng Văn và cho người Mông được quyền tự trị với sự giám sát của một nhóm đồn trú của Pháp ở Đồng Văn và là một đơn vị hành chính của triều Nguyễn.

Cùng lúc đó, nhà Nguyễn cũng phong cho Vàng Dúng Lùng chức quan Bang Cơ, cai quản vùng Đồng Văn. Vàng Dúng Lùng được cấp mũ mão, áo quan và được ăn lương của triều Nguyễn. Kể từ đó, Vàng Dúng Lùng bắt đầu đi vào lịch sử vùng Đồng Văn với cái tên Vương Chính Đức.

Bí ẩn về sức mạnh khu đất xây và dinh thự Vua Mèo 150 tỷ đồng

Thời đó, người Mông ở Đồng Văn sống chủ yếu bằng cách trồng cây thuốc phiện. Sau khi ký hòa ước với Pháp, Vương Chính Đức cũng đã thỏa thuận với người Pháp trong việc mua bán thuốc phiện. Theo đó, họ phải mua thuốc phiện của Vua Mèo với giá gấp đôi so với giá cũ.

4
Cửa trước bước vào dinh thự Vua Mèo

Người Mông Đồng Văn đã có một quãng thời gian dài sống no ấm nhờ cây thuốc phiện. Vương Chính Đức nhanh chóng trở nên giàu có, với dinh cơ và tài sản lớn nhất vùng cao nguyên đá.

Dinh thự của Vua Mèo hiện nay vẫn còn ở Sà Phìn (Đồng Văn) còn được gọi với tên khác là Dinh nhà Vương được Vương Chính Đức xây lên vào thời hùng mạnh nhất của mình .

Dinh thự, theo quan niệm của người Mông từ xa xưa truyền lại, là ngôi nhà chỉ dành cho vua chúa, những người có uy tín nhất vùng. Nhưng hầu như không có người Mông nào sống ở thời Vương Chính Đức được thấy kiến trúc đó.  Đến ngày hôm nay, dinh thự Vua Mèo ở Sà Phìn vẫn là một nơi mà bất cứ người nào đặt chân lên cao nguyên đá Đồng Văn cũng không thể không đến. Nơi đó đã chứng kiến những năm tháng hùng mạnh nhất của dòng họ Vua Mèo Đồng Văn, cho đến khi những hậu duệ của ông rời Đồng Văn, đi đến những vùng đất khác, theo những thay đổi của lịch sử.

The-Mansion-of-Vuong-Family
Dinh thự được xây dựng khoảng 150 tỷ thời bấy giờ

Dinh thự đến nay có tuổi đời gần 100 năm. Có hàng vạn nhân công và thợ giỏi đã xây dựng dinh thự trong 9 năm, tốn 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương, tương đương 150 tỷ đồng Việt Nam lúc bấy giờ.

Toàn bộ dinh thự có diện tích gần 3.000 m2, bắt đầu được xây dựng năm 1919, hoàn thành năm 1928.

1
Dinh nhà Vương được ví như “báu vật” giữa lòng công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn.

Dinh thự vua Mèo có ảnh hưởng kiến trúc của 3 nền văn hóa: Trung Quốc, người Mông và Pháp. Dinh thự có 3 cung Tiền, Trung, Hậu với 64 phòng dành cho 100 người ở.

Ở giữa khu Tiền và Trung có một sàn gỗ, chính là khu vực xét xử của cụ Đức. Khu Trung cung là nơi thờ cúng tổ tiên, ngày nay còn lưu giữ rất nhiều bức ảnh của gia tộc họ Vương.

Toàn bộ gỗ của ngôi nhà trước đây đều được làm từ gỗ thông đá. Kể từ khi trở thành tài sản của Nhà nước, tất cả các vật liệu gỗ của ngôi nhà đã bị thay đổi khoảng 60% bằng gỗ lim và gỗ nghiến.

Hiện, dinh thự vua Mèo về cơ bản vẫn giữ được nét những nét xưa cũ và được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia năm 1993. Năm 2004, gia đình họ Vương quyết định cống hiến dinh thự này cho Nhà nước bảo tồn.

Toàn bộ con cháu nhà họ Vương chuyển ra sống tại dãy nhà mới xây trước cổng chợ ngay trước dinh. Đây là chi con cháu thứ 3 (tức chi của bà vợ ba), là chi duy nhất nhà họ Vương sống tại đây. Còn hai nhánh của bà cả có một nhánh sống ở Canada, Mỹ, một nhánh sống ở Hà Nội, TP.HCM. 

 

Như Ý / Tin nhanh Online