Phan Quang sinh năm 1928 tại làng Thượng Xá, xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ông từng là Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, Tổng giám đốc, Tổng biên tập Đài tiếng nói Việt Nam, gần 10 năm làm Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, là đại biểu Quốc hội ba khóa… nhưng cũng là nhà văn, nhà báo dày dạn kinh nghiệm.

Khi viết văn, viết báo, hoàn toàn không thấy một "ông quan" Phan Quang, mà là một nhà văn, nhà báo đích thực, sâu sát cơ sở, ghi chép tỷ mỉ từng chi tiết, chính xác và rất mẫn cảm. Điều này được minh chứng phần nào qua cuốn sách "Trên nẻo đường này xưa ta đã đi" của Phan Quang vừa xuất bản.

Người đọc không thể quên cảm xúc bồi hồi, xúc động của Phan Quang khi viết về làng Thượng Xá, về quê hương Quảng Trị, mảnh đất chôn nhau cắt rốn, nơi cội nguồn, gốc rễ bền chặt, là nguồn mạch nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ ông. Tình yêu quê hương của ông xuất phát từ tình yêu gia đình, ruộng vườn, nhà cửa, điều giản dị đó càng được bồi đắp quanhững tháng năm ông đi theo cách mạng. Đó là tình cảm giúp ông có thể vượt qua giông bão cuộc đời, là nền tảng, gốc rễ của mọi niềm vui, nỗi buồn và nguồn hạnh phúc.

Tình yêu đó đã thành nỗi nhớ đau đáu trong ông! Nhớ về con sông Nhùng, những trận lụt bất ngờ "nước sông dâng cao đột ngột…" (tr.13); về việc người chị ở Sài Gòn kể chuyện "cha mẹ tôi sinh con trai hiếm muộn" (tr.14), về làm cỗ đãi cả "làng Thượng Xá bên nội và cả bà con quen biết bên ngoại" (tr.15), rồi việc "làm ngôi nhà gỗ ba gian lợp ngói khang trang trên mảnh vườn tổ tiên để lại" (tr.16). Chuyện những người đi mở cõi, chuyện lận đận chốn quan trường của ông nội qua lời kể của cha, chuyện vua Hàm Nghi nghị tại nhà, chuyện "bà chị chín mươi hai kể tội ông em tám mốt" (tr.25)…

Phan Quang viết bằng cả tình yêu thương da diết giữa con người với con người, không chỉ đối với người trong gia đình mà với những người hàng xóm thân quen, thậm chí cả tiếng chửi đổng của bà già khi bị mất gà "Thương bà hàng xóm chỉ cần mất một con gà đã bắc ghế ra ngoài sân ngồi chửi, chửi trống không, dù không réo gọi tên ai" (tr.132) cũng trở thành nỗi nhớ quê. Giọng nói thân thương: "Trời eng Diêu!… Ôi giọng nói quê hương! Giọng nói tanghe từ khi còn nằm ngửa trong nôi, giọng nói ta bi bô lúc ta bắt đầu tập nói" (tr.136). Nỗi nhớ của ông thấm đẫm vào từng cảnh vật, từ con sông hiền từ bóng tre trùm mát rượi, có chiếc cầu con bắc ngang, rồi hội đua thuyền, đốt pháo mừng chiến thắng đến những ngày đi gặt lúa trái mùa, những ngày đưa đò đi bẻ bắp, những tiếng hò đập bắp…

Cảnh làng quê tươi đẹp, nhộn nhịp, mang nặng tình người là thế mà tất cả bị dập tan vì bom đạn, chiến tranh! Tiếng con ve kêu cũng tắt, con bướm cũng chạy trốn giặc Tây… "Trước mặt chúng tôi ngổn ngang một đống ngói tro tàn"… "Tôi bước lên nền nhà nghe dưới chân tiếng ngói vụn vỡ rào rào, đâm nhói từng tiếng một vào con tim" (tr. 129) đã khắc ghi tận đáy lòng Phan Quang. Lòng nhớ thương và ký ức đẹp, nỗi đau, niềm vui, nỗi buồn… tạo nên những trang viết chân thành, thân thiết, bình dị nhưng đủ sức lay động lòng người! Cái bình thường hóa ra lớn lao, cái lớn lao từ việc tưởng như bình thường, nhỏ nhặt! Tất cả được tác giả hồi tưởng, tường thuật thật tỷ mỉ, ngồn ngộn thông tin, đầy ắp chi tiết, với lối hành văn mượt mà, uyển chuyển làm nao lòng bạn đọc!

Phan Quang đến với cách mạng và trở thành phóng viên báo Cứu Quốc liên khu IV khi tuổi mới đôi mươi. Ông đã cùng bộ đội xông pha trận mạc, bất chấp gian khổ, hiểm nguy, hàng ngày phải chứng kiến cảnh máu đổ: "Vài phút sau, súng trên toàn mặt trận đồng loạt nổ vang từ hai phía, đủ loại cỡ, đủ thứ tiếng uỳnh oàng" (tr.86)... "Một anh nữa bị thương có vẻ nặng hơn, mà lại được cáng bằng chiếc võng gai! Một bắp chângãy của anh xếp bên cạnh bắp chân lành" (tr.87)… "Bốn chiến sĩ lặng lẽ đào huyệt… Cái huyệt vừa đào xong, bốn chiến sĩ khiêng thi hài người đồng đội được anh em vừa cuộn vào một tấm chăn, nhẹ nhàng đặt xuống rồi sửa đi nắn lại như không nỡ rời!" (tr.89)

Lòng yêu nước của ông, của nhân dân, người lính đã thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt do đó họ dám chiến đấu, hy sinh. Căm thù giặc cháy lòng, cháy ruột, thế nhưng khi bắt được tù binh, người lính cụ Hồ lại thật nhân văn: "Không những Đầm, mà cả Tây cũng rứa, hắn đã đầu hàng là khẩu súng trên tay mình tự nhiên không bóp cò được. Khi xung phong thấy nó ngồi trên xe nghiêng nghiêng, ngó ngó tức quá, nghĩ bụng, chuyến ni tau tóm được, tau giết chết mi luôn tại trận, để Ban chỉ huy khỏi hay biết. Rứa mà khi thấy hắn giơ hai tay run lẩy bẩy xin hàng, mình không sao nổ súng được" (tr.66).

Những thăng trầm của đời sống lịch sử, xã hội từ cái nhìn nhân văn, những năm tháng kháng chiến chống Pháp không quản gian nan, Phan Quang tự vượt lên chính mình để sáng tác. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những người cầm bút như ông, sinh ra và lớn lên ở cả hai thời kỳ trước và sau chiến tranh, đó là phần ký ức khó phai mờ, là phần đời không thể thiếu. Dưới góc nhìn của nhân chứng lịch sử như ông, những góc khuất cuộc đời được phơi mở, những sự thật được tái hiện một cách chân thật, trực diện bằng những trang viết không hư cấu, không tiểu thuyết mà đầy ắp văn chương!

Đời làm báo, viết văn đi nhiều, nhìn nhiều, gặp gỡ nhiều, nghĩ nhiều, khám phá biết bao điều… khiến những mẩu chuyện, những số phận cuộc đời dưới ngòi bút Phan Quang làm người đọc không cầm được nước mắt. Nó thức tỉnh thiên lương mọi người, hướng mọi người về cái thật, cái tốt, cái đẹp trong cuộc đời, nó cho người tanghị lực để sống!

Là người Quảng Trị bị chia cắt đôi bờ, bao tình cảm của Phan Quang dồn nén vào trang viết. Ông viết bằng cả tâm trạng đau đáu, nhớ nhung da diết, bằng cả ruột gan của một người con miền Nam xa cách quê hương và nỗi đắng cay chia cắt tình phụ tử "Nghe đoạn Bác Hồ ngỏ lời đồng bào miền Nam, nước mắt tôi rưng rưng. Làng quê tôi nay đã trở thành vùng phía nam vĩ tuyến 17. Có nghĩa là tôi phải chờ hai năm nữa, đến ngày đất nước thống nhất, may ra mới có thể gặp lại cha tôi! Cha tôi năm nay tuổi đã cao, liệu có còn sức tồn tại đến ngày hôm ấy?" (tr.121). Những lời ấy như rút từ cõi lòng để người đời nhớ mãi cùng dòng chảy văn chương! Dù là báo, là văn đều đòi hỏi phải chính xác về thông tin, nồng ấm về cảm xúc, tình cảm của Phan Quang đã gửi gắm trong từng con chữ, làm người đọc có cả một trường ngẫm suy, chiêm nghiệm!

Nhà văn, nhà báo Phan Quang - Tác giả cuốn sách "Trên nẻo đường này xưa ta đã đi"

Giữa tháng 3/1975 khi ngụy quyền Sài Gòn đại bại ở mặt trận Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã kịp thời chỉ đạo mặt trận Trị Thiên Huế, chớp thời cơ, nhanh chóng chuyển hướng tấn công tiêu diệt toàn bộ quân địch. Ngày 26/3/1975 với những đòn tấn công thần tốc ta đã giải phóng Thừa Thiên Huế. "Chúng tôi dừng xe lại trước Hoàng thành cũ, ngắm lá cờ sao vàng trên nền hai màu xanh, đỏ của Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam lồng lộng bay trong gió" (tr.235).

Những ký ức của Phan Quang về những ngày giải phóng Huế còn nguyên cảm xúc. Đi quanhững địa danh như cầu Tràng Tiền, cửa Ngọ môn, "lang thang trên những con đường hẹp trong nội thành"… (tr.251), tâm trạng ông vui mừng khôn xiết như tỉnh, như mơ, nhiềungày đêm không sao ngủ được! Thắng lợi mặt trận Trị Thiên Huế đã đập tan tấm lá chắn mạnh nhất của địch ở phía Bắc quân khu 1 vùng 1 chiến thuật, giáng một đòn mạnh vào âm mưu co cụm chiến lược của địch ở ven biển miền Trung, tạo đà cho bước thần tốc của đại quân ta tiến vào giải phóng Đà Nẵng, Sài Gòn… thống nhất đất nước!

Những bài viết của Phan Quang đầy ắp tư liệu, thể hiện tâm hồn nhạy cảm trước sự hy sinh vô bờ của nhân dân cũng như sự thao thức, trăn trở trước biến động thời cuộc. "Một ngày bằng hai mươi năm trong lịch sử dân tộc. Một tháng mà có bốn cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương. Sự chỉ đạo chiến lược được nâng lên tầm cao mới. Đối với riêng tôi, tháng ba kỳ diệu khởi đầu với Mơ và Dâu chùa Hương, cây Chè và con Bò cao nguyên Mộc Châu để mau chóng gặp sông Thạch Hãn của tuổi thơ, sông Hương, sông Hàn, rồi đi tiếp một mạch vào tận Đất mũi Cà Mau." (tr.240)

Với tâm hồn nghệ sĩ giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng, với một tình cảm thiết tha, gắn bó, tự hào về đất nước, với vốn ngôn ngữ phong phú cùng con mắt quan sát tinh tường, và đầu óc đầy sáng tạo, Phan Quang đã phát hiện và diễn tả sinh động vẻ đẹp đầy chất thơ của vùng Đất mũi Cà Mau. Vẻ đẹp hùng tráng đẫm chất sử thi với cảm hứng anh hùng ngợi ca vùng Đất Mũi "truyền thống kiên cường của vùng Đất Mũi Cà Mau dường như vẫn còn bàng bạc đâu đây, ở mỗi dòng kênh ta lướt sóng, ở mỗi thước đất ta bước chân lên, ở mỗi gốc tràm, mỗi cành đước trong rừng xa. Nhân dân Cà Mau luôn trân trọng những sự tích chiến đấu, quý mến các người con anh hùng của mình"… (tr.326).

Cà Mau rẻo đất tận cùng Tổ quốc tượng trưng cho ý chí kiên cường của Nam bộ thành đồng có biết bao bà mẹ như Lê Thị Phần "Mỗi lần nghe tin một người con mới ngã xuống, bà tìm đến tận nơi đưa bàn tay gầy guộc vuốt mắt cho con và thì thầm với con "Con ơi, có chiến đấu thì có mất mát hy sinh. Con đã làm trọn nghĩa vụ với đất nước, hãy yên lòng mà nghỉ nha con!" Rồi cố cầm lòng, không để một giọt nước mắt rơi trước mặt mọi người, bà lặng lẽ ra về giống như khi bà lặng lẽ đến." (tr.327)

Với tầm nhìn và hiểu biết sâu rộng về văn hóa, lịch sử, địa lý của vùng Đất Mũi, ông đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng hiểu sâu hơn về Cà Mau. Đặc biệt quan tâm đến những chuyển biến mau lẹ của cuộc sống nơi đây saungày giải phóng, ông đã nhìn nhận và đánh giá lối sống, bản lĩnh của con người Đất Mũi, từ đó làm nổi bật bản chất tốt đẹp của những con người bình thường mà cuộc đời họ gắn bó với những thăng trầm lịch sử, của quá trình phát triển đất nước.

Cái nhìn mới mẻ về con người và cuộc sống nơi đây của tác giả là phát hiện bất ngờ về chất Nam bộ của người Đất Mũi "Cách mạng Việt Nam ở rẻo đất tột cùng này cũng tương tự như cây đước, cây tràm. Cả khu rừng đước có thể bị phá, chỉ cần còn lại một vài cây sống sót, hạt của những cây may mắn này rụng xuống đất sẽ lại mọc lên thành muôn vàn cây đước nhỏ, và chẳng bao lâu nó lớn lên thẳng tắp, cứng cỏi." (tr.329)…

"Người Cà Mau yêu cây đước giống hệt như người dân đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ quý cây tre. Tre và đước đều là loại cây mọc thẳng. Rừng đước hùng mạnh và huyền bí" (tr.332). Vẻ đẹp huyền bí của vùng đất tận cùng phương Nam Tổ quốc như "duyên" lặn vào trong, điều này đôi khi chỉ nhận ra khi đặt chân lên Cà Mau, hoặc ít ra cũng đủ từng trải, đủ những chia ly, đủ tinh tế để xa rời mới cảm nhận được!

Cảm ơn nhà báo, nhà văn Phan Quang đã giúp chúng ta lang thang với vùng Đất Mũi, đi sâu vào kênh rạch, sông ngòi chằng chịt đầy tôm cá, ghé thăm rừng đước, rừng tràm, trảng chim ở U minh Thượng, U Minh Hạ để tôi cảm nhận hết cái hồn thiêng của con người, đất trời Cà Mau!

Tập hồi ký "Trên nẻo đường này xưa ta đã đi" hình thành theo kiểu vừa kết cấu hồi ức, vừa theo lối truyền thống trật tự thời gian, do vậy nó như sắp xếp chồng chéo các lớp thời gian, các mảng hồi ức; đó là sự độc đáo, tạo nên sự đan xen, hòa hợp nhiều sắc thái, giọng điệu: lúc tâm tình, lúc căm phẫn, lúc xót xa, lúc bồi hồi thương nhớ, lúc rạo rực hân hoan… Những trang viết trong tập hồi ký là ống kính của nhiếp ảnh, điện ảnh bằng ngôn ngữ, nó tạo nên sự cuốn hút lớn, khiến những trang viết của Phan Quang không đơn thuần là những lời kể về sự việc, sự kiện, con người mà thực tế đã trở thành nghệ thuật văn chương, đường biên của thể loại được mở rộng tối đa!

Theo lẽ thường, khi tuổi cao, mỗi tuổi mỗi yếu, sa sút về thể xác lẫn tinh thần. Nhưng Phan Quang đã ngoài chín mươi, năm tháng có hằn nét thời gian lên da dẻ, râu tóc, sức lực không còn như xưa, song trí tuệ của ông thì vẫn minh mẫn và nhạy cảm, đôi mắt vẫn tinh anh, miệng luôn nở nụ cười độ lượng. Khi viết về mình, về người, Phan Quang bao giờ cũng cẩn trọng, khách quan, không lạm dụng hồi ký để tô vẽ, đánh bóng tên tuổi về hành trang của mình, vô tình, hay hữu ý hạ thấp người khác. Ông là người rất có bản lĩnh, luôn làm chủ mình, tự kiềm chế và thực sự cầu thị.

Tâm huyết, chí tình, thẳng thắn, trọng nghĩa, lịch lãm với một tâm thế bao dung, nhân ái, độ lượng, chắc chắn những trang viết của ông dù là báo, hay văn cũng vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian được người đời đồng tình, chia sẻ!

PGS, TS. Nguyễn Thị Trường Giang / Người Làm Báo

Nguồn: https://baomoi.com/phan-quang-nguoi-luu-giu-ky-uc-qua-tren-neo-duong-nay-xua-ta-da-di/r/35666595.epi