Chúng ta đã nghe nhiều đến "tên cúng cơm" nhưng chắc chắn nhiều người vẫn không biết nó là tên gì? Tại sao lại dùng nó để gọi người chết?

"Tên cúng cơm" là một loại tên, được sử dụng với một người nào đó khi từ biệt cuộc đời sang thế giới bên kia. Bởi "cúng cơm" là một nghi lễ mà người thân thực hiện để cúng người mới mất vào các bữa ăn (theo phong tục) trong 49 ngày đầu.

Nhiều người nghĩ rằng, "tên cúng cơm" chính là tên thật (tên thường gọi) của ai đó. Bởi ta vẫn thường thấy "các cụ" khi cúng người chết bằng cách xướng chính tên người đó (vẫn được gọi hàng ngày khi còn sống) trong bài khấn. Nhưng trên thực tế không hẳn thế, bởi vì cách gọi như thế nào đều có sự khác biệt trong quan niệm và cách hành xử với "tên cúng cơm" trong dân gian.

"Tên cúng cơm" là tên gọi đặt cho người đã khuất. Ảnh: Tamlinh.org.

"Tên cúng cơm" là tên gọi đặt cho người đã khuất. Ảnh: Tamlinh.org.

Sự khác nhau giữa tên thật và tên cúng cơm?

Theo PGS.TS Phạm Văn Tình từng chia sẻ trên Thể thao & Văn hóa, với người Việt (và nhiều dân tộc phương Đông khác, điển hình là Trung Quốc), mỗi người sống trong nhân gian có không dưới 5 loại tên: Tên chính, nhũ danh, tên tự, tên hiệu, tên húy, tên tục, tên thụy… Tất nhiên, mỗi một tên lại có chức năng và giá trị khác nhau.

"Tên chính" (hay tên thật, tên thường gọi) là tên chính thức đặt cho ai đó sau khi sinh, được đăng ký khai sinh, vào sổ hộ tịch và được coi là cái tên có tính pháp lý.

"Nhũ danh" là tên đặt cho đứa trẻ lúc mới sinh. Có người nói "nhũ danh" chỉ dùng cho phụ nữ. Không phải. Mọi đứa trẻ đều có quyền được đặt nhũ danh. "Nhũ" ở đây chỉ "cái vú", hàm ý tên của "trẻ đang còn bú mẹ".

"Tên tục" là tên cha mẹ đặt cho con lúc mới sinh, còn rất nhỏ, thường xấu xí, theo quan niệm là vì tên trẻ mang nghĩa xấu, không hay thì mới tránh được sự chú ý, quấy phá của ma quỷ. Bây giờ tên loại này đã giảm nhiều chứ ngày xưa có những đứa trẻ tên xấu tệ xấu hại, đến nỗi người ngoài nghe nói phải đỏ mặt.

"Tên tự" (hay tên chữ) là tên đặt bằng từ Hán Việt và thường dựa vào nghĩa của tên vốn có (phổ biến trong giới trí thức thời trước, các nhà Nho). Chẳng hạn, tên tự của Nguyễn Du là Tố Như, của Nguyễn Đình Chiểu là Mạnh Trạch, Nguyễn Công Trứ là Tồn Chất…

"Tên hiệu" là tên tồn tại bên cạnh tên vốn có, do những người trí thức thời phong kiến tự đặt thêm cho mình (thường là một từ Hán Việt có ý nghĩa được lựa chọn theo ý nguyện, sở thích). Chẳng hạn, Nguyễn Trãi có hiệu là Ức Trai, Lê Hữu Trác có hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, hay tên hiệu của Đoàn Thị Điểm là Hồng Hà Nữ sĩ…

"Tên thụy" là tên thời phong kiến chỉ dùng đặt cho những ai có sự nghiệp, công trạng đáng kể sau khi mất.

"Tên húy" là tên do cha mẹ đặt cho con từ lúc còn nhỏ, sau khi trưởng thành sẽ được thay bằng tên khác và thường kiêng tránh không nhắc hay gọi đến.

Tên này được đặt cho một người đã chết ở thời điểm 3 ngày sau khi mất. Ảnh: Hành trình tâm linh.

Tên này được đặt cho một người đã chết ở thời điểm 3 ngày sau khi mất. Ảnh: Hành trình tâm linh.

Trở lại "tên cúng cơm" (còn gọi là "tên hèm") là tên đặt cho một người đã chết nào đó ở thời điểm 3 ngày sau khi mất. Lễ cúng 3 ngày, còn gọi là Lễ tế ngu hay Lễ Mở cửa mả".

Tại sao tên cúng cơm lại dùng để gọi người chết?

Trong cuốn sách Thọ Mai Gia Lễ (sách viết về phong tục cưới hỏi ma chay của người Việt Nam), NXB Hồng Đức, tác giả Đức Thành biên soạn lại theo ghi chép của cư sĩ Hồ Sỹ Tân có ghi, Trong giờ phút thân nhân hấp hối, người nhà sau khi hỏi xem có trăng trối gì không thì đặt các loại tên như: Đặt tên tự (tên chữ): Tên tự chỉ đặt cho các cụ ông. Tên tự được đặt từ khi còn đi học, nếu khi đi học chưa đặt tên tự thì trước lúc lâm chung con cháu phải đặt tên tự cho cụ và hỏi cụ có nhất trí không. Hoặc đặt tên tự cho cụ rồi ghé tai cụ nói với cụ là "tên tự của cụ là… nhé"; Đặt tên húy (tên cúng cơm): Nếu lúc đẻ ra cha mẹ chưa đặt tên cho cụ thì trước lúc lâm chung con cháu phải đặt tên cúng cơm cho cụ gọi là tên huý. Vì có tục kiêng tên nên thường ngày không gọi tên huý của cụ mà chỉ gọi tên tự, hay tên hiệu, hoặc tên con đầu lòng".

Cũng theo PGS.TS Phạm Văn Tình, cách thức đặt tên cúng cơm cũng phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt theo phong tục (chẳng hạn, phải theo cấu trúc "X + Phủ quân" (nếu là đàn ông), "X + Nhụ nhân" (nếu là đàn bà); người trên 50 tuổi mới được đặt kèm chữ Phúc, dưới 50 tuổi không được dùng chữ này…). Sau khi mời thầy cúng tới làm lễ và đặt tên, văn bản tên cúng cơm được đặt trong bài vị người mất và sẽ được người nhà xướng lên khi bái lạy lúc dâng cơm vào bữa.

Đặt "tên cúng cơm" cũng phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt. Ảnh: Bantho.com.

Đặt "tên cúng cơm" cũng phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt. Ảnh: Bantho.com.

Tên này theo quan niệm là rất trang trọng và thiêng liêng, chỉ người thân mới biết. Người ngoài biết là điều tối kỵ. Bình thường ai đó (không phải họ hàng thân tộc) mà nhắc đến sẽ đem lại rủi ro (theo quan niệm). Hoặc rất có thể người ta sẽ dùng tên này để làm những điều không hay. Không ít trường hợp khi thù ghét nhau, người ta cứ lôi "tên cúng cơm" nhà nọ ra réo để bêu riếu hay nhục mạ. Thật là một hành vi phản cảm, kém văn hóa.

Theo Nam Kỳ Lục tỉnh của tác giả Nguyễn Văn Trần có viết, thời xa xưa, không phải ai cũng có quyền có "tên cúng cơm', bởi "tên cúng cơm" chỉ dành cho giới quý tộc. Dần dần về sau, dưới thời quân chủ, ở Tàu và Việt Nam, "tên cúng cơm" mới được áp dụng rộng rãi hơn, nhưng chỉ ở trong giới giàu có, có học, chứ người bình dân không mấy người có tên cúng cơm.

Người Việt Nam dù không có "tên cúng cơm" vẫn được người trong gia đình thờ cúng chu đáo. Và việc thờ cúng ông bà, cha mẹ, người thân trong gia đình ở Việt Nam là nét đẹp văn hóa, phong tục lâu đời của người Việt.

Thông tin mang tính chất tham khảo!

  • Vì sao bàn thờ trong nhà phải có 3 bát hương mà không phải 2 bát?
  • Vì sao trong đám ma của người Việt lại có cúng 3 ngày, 49 ngày và 100 ngày?
  • PV (Tổng hợp) / Tin Nhanh Online