Liên quan đến vụ đốt rơm vùng kín hàng xóm để 'dằn mặt' gây xôn xao dư luận, PV đã có cuộc trao đổi với luật sư Đặng Văn Cường về vấn đề pháp lý trong vụ việc trên.

 

Luật sư Đặng Văn Cường- Trưởng văn phòng luật sư Chính Pháp - Đoàn luật sư TP Hà Nội

138090

Theo luật, khi gây thương tích thì sau bao nhiêu ngày cơ quan chức năng đưa nạn nhân đi giám định, thưa luật sư?

Luật sư Đặng Văn Cường: Theo thông tin được biết, vào ngày 9/10/2014 khi đi qua ngõ nhà bà T., chị P. bị một số người trong gia đình bà T. đánh đập, dùng rơm đốt vùng kín… nguyên nhân là do chị P. đã cùng một số hộ dân đứng tên làm đơn yêu cầu trả lại phần đất nghĩa trang mà gia đình bà T. lấn chiếm.

Hành vi của một số thành viên trong gia đình bà T. nêu trên có dấu hiệu vi phạm pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người khác. Vì vậy, người bị xâm phạm là chị P. có quyền làm đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của những người nêu trên gửi tới cơ quan công an (ở đây là Công an huyện Sóc Sơn) để đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Theo quy định tại Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự về giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm thì: Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan tổ chức chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định về việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự… Trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin với các hành vi xâm phạm tới sức khỏe thì cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiến hành các thủ tục để trưng cầu giám định thương tích đối với nạn nhân làm căn cứ giải quyết vụ án.

Pháp luật hiện hành không quy định bắt buộc trong thời gian bao lâu sau khi nhận được tin tố giác, tin báo tội phạm… thì cơ quan điều tra phải đưa nạn nhân đi giám định tỉ lệ thương tật.

Thông thường, sau khi bị hành vi vi phạm pháp luật của người khác gây tổn hại đến sức khỏe của mình thì nạn nhân sẽ được đưa vào bệnh viện để  cấp cứu, điều trị. Trong quá trình điều trị, bệnh viện sẽ lập hồ sơ bệnh án cho bệnh nhân và sau khi sức khỏe của bệnh nhân đã ổn định, có thể đi lại được Cơ quan điều tra sẽ tiến hành lấy hồ sơ bệnh án và đưa bệnh nhân đi giám định tỉ lệ thương tật làm căn cứ giải quyết vụ án. Thời gian thực hiện giám định thương tật sớm hay muộn phụ thuộc vào quá trình điều trị của bệnh nhân trong từng vụ việc.

Luật sư có thể cho biết, bị thương tổn từ bao nhiêu % thì sẽ bị truy tố về tội 'Cố ý gây thương tích'?

Luật sư Đặng Văn Cường: Theo Điều 104 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 tội cố ý gây thương tích được quy định như sau:

“Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thỉ bị phạt tù từ sáu tháng đến 3 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân”.

Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật nêu trên, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 104 Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.

Cũng cần lưu ý là nếu thương tật chỉ ở mức độ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 104 Bộ luật hình sự nêu trên thì cơ quan công an chỉ xem xét, giải quyết khi có đơn tố giác tội phạm của nạn nhân. Thủ tục này được quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chị P. cảm thấy đau đớn, tủi nhục  khi nghĩ lại mọi chuyện đã qua

138100

Trong trường hợp của chị P. nói trên, người bị tố cáo chỉ bị truy tố về tội 'làm nhục người khác' liệu đã đủ hay chưa, thưa luật sư?

Luật sư Đặng Văn Cường: Theo Điều 121 BLHS, làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của con người. Người phạm tội phải là người có hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, cạo đầu, cắt tóc, lột quần áo giữa đám đông…

Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình.

Tất cả hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Nếu hành vi làm nhục người khác lại cấu thành một tội độc lập thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện.

Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể trả thù chính người bị hại hoặc cũng có thể trả thù người thân của người bị hại.

Người bị hại phải là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự nhưng thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng là một vấn đề khá phức tạp. Bởi vì cùng bị xâm phạm như nhau nhưng có người bị thấy nhục hoặc rất nhục nhưng có người lại thấy bình thường.

Về phía người phạm tội cũng có nhận thức tương tự, họ cho rằng với hành vi như thế thì người bị làm nhục sẽ nhục hoặc rất nhục nhưng người bị hại lại thấy chưa bị nhục. Nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hay người bị hại thì cũng chưa thể xác định một cách chính xác mà phải kết hợp với các yếu tố như trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội, quá trình hoạt động của bản thân người bị hại, phong tục tập quán, truyền thống gia đình... Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của người bị hại bị xâm phạm tới mức nào. Sự đánh giá của xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa rất lớn để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

Theo quy định của Bộ luật hình sự và hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao thì nếu hành vi làm nhục người khác mà gây ra thương tích cho nạn nhân đủ điều kiện để xử lý về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự thì sẽ bị xử lý về tội cố ý gây thương tích chứ không xử lý về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, trong trường hợp của chị P. nói trên, nếu tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 104 Bộ luật hình sự, xác định động cơ, mục đích của các đối tượng trên là nhằm xâm phạm tới sức khỏe của chị P., thì những đối tượng này sẽ bị truy cứu về tội 'cố ý gây thương tích'.

Nếu chị P. muốn trợ giúp pháp lý thì tìm đến đâu, thưa luật sư?

Luật sư Đặng Văn Cường: Theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 thì: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Các trường hợp được trợ giúp pháp lý gồm:

  1. Người nghèo.
  2. Người có công với cách mạng.
  3. Người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa.
  4. Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Như vậy, trường hợp chị P. nếu thuộc hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn thì chị  có thể yêu cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội – trực thuộc Sở tư pháp thành phố Hà Nội để tư vấn, trợ giúp pháp lý miễn phí.

Trong trường hợp chị P. không thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý nêu trên nhưng có hoàn cảnh khó khăn, éo le thì vẫn có thể liên hệ với văn phòng luật sư nào đó trên địa bàn thành phố Hà Nội để được tư vấn, hỗ trợ pháp lý miễn phí.

Hiện nay rất nhiều luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư sẵn sàng tham gia bào chữa, trợ giúp pháp lý đối với người nghèo, người khó khăn gặp hoàn cảnh ngang trái, oan ức... mà không có khả năng thanh toán thù lao cho luật sư theo quy định. Vì vậy, trường hợp của chị P. có nhiều cơ hội để được tư vấn, hỗ trợ pháp lý miễn phí.

Hiện trường xảy ra sự việc chị P. bị hành hạ về thể xác lẫn tinh thần.

138101

Trong trường hợp trên, nếu người bị tố cáo bị truy tố theo tội 'Làm nhục người khác' thì mức hình phạt sẽ ra sao và phải đền bù thiệt hại cho nạn nhân như thế nào?

Luật sư Đặng Văn Cường: Trong trường hợp tỉ lệ thương tật của chị P không đủ căn cứ để xử lý về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 BLHS và có đơn yêu cầu của chị P yêu cầu khởi tố một số thành viên trong gia đình bà T về tội làm nhục người khác thì vụ việc sẽ bị xử lý về tội làm nhục người khác. Hình thức xử phạt được quy định tại Điều 121 BLHS như sau:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Mức bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được quy định tại Điều 611 Bộ luật dân sự và hướng dẫn cụ thể tại khoản 3, Mục 2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày 08/7/2006 như sau: Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm; thiệt hại do danh dự, uy tín của tổ chức bị xâm phạm.

Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm: chi phí cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có).

Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được xác định như sau:

- Nếu trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế, nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm người bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại, nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

- Việc xác định thu nhập thực tế của người bị xâm phạm và việc xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị xâm phạm được thực hiện theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.

Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được quy định như sau:

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị xâm phạm.

- Trong mọi trường hợp khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị xâm hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo viết hay báo hình…), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm…

- Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

 Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật thông tin vụ việc đến bạn đọc...

Thảo Lương / Skcd.com.vn